Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Ông Chấn có phải nộp thuế khi nhận bồi thường 7,2 tỷ đồng?

Tiền bồi thường oan sai 7,2 tỷ đồng ông Chấn nhận từ TAND Tối cao được đại diện Bộ Tài chính xác nhận thuộc diện miễn thuế thu nhập cá nhân.

TAND Tối cao vừa đồng ý bồi thường 7,2 tỷ đồng cho ông Nguyễn Thanh Chấn, người gần một thập kỷ bị bắt oan về tội Giết người. Bộ Tài chính trong cuộc họp báo đầu ngày 9/6 cho hay khoản này sẽ do ngân sách chi trả ngay sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ do tòa án chuyển sang.


Vợ chồng ông Chấn dự tính sẽ dành số tiền bồi thường 7,2 tỷ đồng để trả nợ.

Trao đổi với VnExpress, một lãnh đạo Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân (Bộ Tài chính) cho biết cơ quan thuế chưa nhận được hồ sơ liên quan việc bồi thường của ông Chấn.

Theo quy định tại Thông tư 111 hướng dẫn về Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi ban hành năm 2013, các khoản thu nhập từ bồi thường Nhà nước, người dân không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. "Về nguyên tắc, khoản 7,2 tỷ đồng ông Chấn nhận bồi thường nằm trong diện được miễn thuế thu nhập cá nhân", vị này nói.

Luật sư Phạm Thanh Bình cho hay, Điều 64 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009 quy định: “1. Khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của Nhà nước theo quy định của Luật này, người bị thiệt hại không phải nộp lệ phí, án phí và các loại phí khác. 2. Không thu thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản tiền bồi thường mà người bị thiệt hại được nhận".

Theo luật sư, khoản 12 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 cũng khẳng định rõ thêm một lần nữa chủ trương này khi quy định: "Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật”.

Theo Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải chuyển ngay hồ sơ đề nghị bồi thường đến cơ quan tài chính cùng cấp. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhận được hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí hoặc có văn bản gửi cơ quan tài chính cùng cấp đề nghị cấp kinh phí bồi thường. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cơ quan có trách nhiệm bồi thường bổ sung hồ sơ hoặc sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường. Thời hạn bổ sung hồ sơ không quá 15 ngày.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bồi thường hợp lệ, cơ quan tài chính có thẩm quyền cấp kinh phí cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường để chi trả cho người bị thiệt hại.

Sau khi nhận được kinh phí do cơ quan tài chính cấp, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện việc chi trả bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của người bị thiệt hại.

Nguồn: Thanh Thanh Lan - Pha Lê(Tin Nhanh Viet Nam)

DỊCH VỤ KẾ TOÁN - CÔNG TY TNHH KỲ DUYÊN
Website: www.ketoankyduyen.com
Địa chỉ: A10 Đường Trục, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: 08 3553 1830 Fax: 08 5445 1841
Email: ketoankyduyen@gmail.com
Hotline: 0903 615 248 - 0945 94 94 39

Tags:
Dichvu ke toan, dich vu lam ke toan, dich vu ke toan tron goi, dich vu ke toanthue, dich vu bao cao thue, dich vu lam bao cao thue, dich vu quyet toan thue, dich vu bao cao tai chinh,dich vu hoan thue, dich vu lam so sach ke toan, dichvu hoan thien so sach ke toan, dich vu lam lai so sach ke toan, cong ty dich vuke toan, dich vu ke toan tai tphcm, dich vu ke toan tai quan binh thanh

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Sẽ có nghiên cứu thực tế về đạo đức hành nghề kế toán tại Việt Nam

Một nghiên cứu thực tế về tính chính trực và các chuẩn mực đạo đức trong hành nghề Tài chính Kế toán tại Anh đã được Viện Kế toán Công chứng Vương quốc Anh và xứ Wales (ICAEW) thực hiện.

Nghiên cứu được thực hiện với khoảng 1.500 người tham gia khảo sát trực tuyến, 94 cuộc phỏng vấn các chuyên gia thuộc 15 tổ chức khác nhau.

Kết quả và những kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu này đã được ICAEW chia sẻ thông qua một tọa đàm chuyên môn vừa mới diễn ra tại Hà Nội.


Ông David Stevens - Chuyên gia về các vấn đề liên quan đến quy chuẩn đạo đức và thị trường của ICAEW

Theo ông David Stevens - Chuyên gia về các vấn đề liên quan đến quy chuẩn đạo đức và thị trường của ICAEW, có 10 yếu tố góp phần xây dựng tính chính trực trong một tổ chức, trong đó, những yếu tố quan trọng nhất là: Phong thái và giá trị cốt lõi của tổ chức; Văn hóa và chính sách cởi mở; Có bộ quy tắc ứng xử; Kết hợp hài hòa giữa đào tạo – khen thưởng – kỷ luật; Giám sát chặt chẽ và luôn coi tính chính trực là nguyên tắc cơ bản trong hành động.

Thực tế cho thấy, các cuộc khủng hoảng và bê bối trong kinh doanh cũng như trong nghề nghiệp hầu hết bắt nguồn từ việc không tuân thủ các chuẩn mực đạo đức này.

Với tầm nhìn và ý thức về sứ mệnh của người dẫn đầu, ICAEW đã là tổ chức tiên phong trong việc chủ động xây dựng một chuẩn mực đạo đức riêng của mình dựa trên những nguyên tắc trong bộ quy chuẩn của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) với 5 nguyên tắc cơ bản là: tính chính trực, khách quan, năng lực chuyên môn và tính thận trọng, bảo mật, hành vi chuyên nghiệp.

Nhằm hỗ trợ các hội viên của mình trong vấn đề này, ICAEW đã thiết lập đường dây trợ giúp, tư vấn pháp lý, đưa ra lời khuyên cũng như cung cấp các thông tin liên quan một cách miễn phí và hoàn toàn bảo mật. Không những thế, ICAEW còn đưa ra khung hướng dẫn giải quyết các vấn đề liên quan đến quy chuẩn đạo đức, đưa ra các trường hợp điển hình để tham chiếu, cam kết có các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên vi phạm…


Ông Mark Billington, Giám đốc ICAEW khu vực Đông Nam Á

Ông Mark Billington – Giám đốc ICAEW khu vực Đông Nam Á cho biết: “Thông qua những hoạt động và biện pháp đang tiến hành, ICAEW đã luôn thể hiện nỗ lực của mình trong việc thiết lập các tiêu chuẩn, ban hành hướng dẫn và tư vấn về các vấn đề đạo đức ảnh hưởng đến nghề kế toán, kiểm toán, khuyến khích tiêu chuẩn cao về hành vi đạo đức, tạo nên một thị trường minh bạch, lành mạnh.”

Được biết, hiện ICAEW đang nghĩ đến việc thực hiện một cuộc nghiên cứu và đưa ra báo cáo tương tự về chủ đề này tại khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, nhằm đưa ra những giải pháp mang tính sát thực tại khu vực này.


- ICAEW là tổ chức nghề nghiệp Kế toán và Tài chính hàng đầu thế giới , được thành lập năm 1880 và có trụ sở chính ở London (Anh).

- ICAEW hiện có trên 145,000 hội viên Kế toán Công chứng ở trên 165 quốc gia trên toàn thế giới

- Năm 2006, ICAEW được Ủy Ban Châu Âu (European Commission) chọn là đơn vị nghiên cứu và triển khai áp dụng IFRS trên toàn bộ các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu.- 97% những thương hiệu tốt nhất trên thế giới tuyển dụng Hội viên của ICAEW (theo số liệu ICAEW member data tháng 1 năm 2013)

Theo: P.V-Người Đưa Tin


Địa chỉ: A10 Đường Trục, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: 08 3553 1830            Fax: 08 5445 1841
Hotline: 0903 615 248 - 0945 94 94 39

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế: Không chỉ dừng ở lý thuyết

Theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính cùng các bộ, ngành liên quan phải tiếp tục rà soát, cắt giảm ngay những thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, phấn đấu năm 2015 số doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt tối thiểu 90%.

Để người nộp thuế thực sự được thụ hưởng

Triển khai Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2014, Bộ Tài chính đã thực hiện hàng loạt giải pháp, qua đó cắt giảm được 370 giờ nộp thuế cho doanh nghiệp, 97% các doanh nghiệp đã kê khai thuế qua mạng... Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn vào thực tế, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng: “Việc giảm số giờ nộp thuế mới chỉ là những tính toán trên giấy tờ, thực tế để người nộp thuế được thụ hưởng các chính sách cải cách hành chính thuế, thì còn phải thực hiện cả một bước dài”.

“Mặc dù rất cố gắng, nhưng ngành thuế mới giảm được 53 thủ tục hành chính và đơn giản được 262 thủ tục. Hiện tại, số lượng thủ tục hành chính thuế vẫn còn quá nhiều (432 thủ tục). Bên cạnh đó, nhiều quy trình quản lý thuế như đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra… chưa được sửa đổi, bổ sung một cách tổng thể”, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng chỉ rõ.


Chỉ bằng vài thao tác trên máy tính, doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế

Theo yêu cầu tại Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12-3-2015 của Chính phủ, hạn chót là ngày 30-9-2015, ngành thuế phải giảm được 43 thủ tục và đơn giản hóa 87 thủ tục hành chính thuế. Tiếp tục cắt giảm thời gian làm thủ tục thêm 45,5 giờ. Ít nhất 90% hồ sơ hoàn thuế và ít nhất 90% đơn khiếu nại của người nộp thuế phải giải quyết đúng thời gian quy định. Đặc biệt, phải có 95% số doanh nghiệp khai thuế điện tử và 90% số doanh nghiệp thực hiện nộp thuế điện tử.

Quyết tâm triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử

Từ góc độ doanh nghiệp, nhiều ý kiến đánh giá cao những cải cách khi thực hiện nộp thuế điện tử. Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Phó trưởng phòng Tài chính kế toán Công ty TNHH MTV Thuốc lá Thăng Long cho biết, quá trình nộp thuế điện tử cho thấy đây là dịch vụ hết sức tiện ích, phù hợp với xu thế phát triển. “Trước đây, để nộp thuế kế toán phải lập ủy nhiệm chi rồi trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt, sau đó kế toán phải tận tay mang đến ngân hàng để chuyển vào kho bạc. Còn nay, kế toán chỉ cần lập ủy nhiệm chi trên phần mềm rồi chuyển cho các cấp ký duyệt bằng chữ ký số, sau đó chỉ cần nhập lệnh chuyển tiền, toàn bộ quy trình chỉ mất từ 5 - 10 phút, không mất thời gian chờ đợi, chi phí xăng xe. Từ khi thực hiện nộp thuế điện tử chưa thấy có tình trạng nghẽn mạng, tuy nhiên tôi cũng lo ngại vấn đề này sẽ xảy ra khi dịch vụ nộp thuế điện tử được triển khai trên diện rộng”, bà Lan Anh chia sẻ.

Hơn 15.000 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử

Cục Thuế TP Hà Nội cho biết, đến 31-3-2015, đã có 107.661 doanh nghiệp thực hiện kê khai qua mạng, đạt 96,5% số doanh nghiệp đang hoạt động. Đối với nộp thuế điện tử, đã có 15.386 doanh nghiệp đăng ký. Lũy kế năm 2015 có 2.539 giao dịch với số thuế đã nộp là 817 tỷ đồng.

Năm 2015, Cục Thuế TP Hà Nội phấn đấu giảm tối thiểu 10% số thủ tục, đơn giản hóa tối thiểu 20% số thủ tục, giảm 45,5 giờ nộp thuế, tỷ lệ doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt tối thiểu 90%... Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Cục trưởng Cục Thuế TP Hà Nội - Hà Minh Hải đã trực tiếp chỉ đạo các phòng và các Chi cục Thuế nghiêm túc quán triệt đầy đủ, kịp thời tinh thần, nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính theo Nghị quyết 19.

Anh Tú

Ông Phạm Quang Toàn - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Tổng cục Thuế) cho biết, qua làm việc với doanh nghiệp đã ghi nhận một số băn khoăn như số lượng ngân hàng tham gia hiện nay vẫn chưa nhiều. Đặc biệt là vấn đề bảo mật, độ an toàn khi giao dịch… “Về vấn đề này, chúng tôi cũng đã có những giải đáp cho doanh nghiệp. Cụ thể, tất cả các khoản tiền nộp vào ngân sách thì tài khoản đích chỉ là tài khoản của Kho bạc Nhà nước mở tại ngân hàng thương mại, không luân chuyển sang tài khoản khác, không thể xảy ra thất thoát nên doanh nghiệp có thể yên tâm. Trong thời gian tới, cơ quan thuế sẽ xem xét phối hợp với 30 - 40 ngân hàng, đảm bảo tới tháng 7-2015 hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam có thể tham gia phối hợp nộp thuế điện tử” - ông Toàn khẳng định.

Mặc dù được doanh nghiệp đánh giá cao, song số liệu thống kê của Tổng cục Thuế cho thấy, tính đến ngày 1-4 mới có 41.800/488.000 doanh nghiệp (tương ứng 8,5%) tham gia nộp thuế điện tử. Như vậy, chỉ riêng với nhiệm vụ hoàn thành chỉ tiêu 90% số doanh nghiệp nộp thuế điện tử trong năm 2015 đối với Bộ Tài chính cũng đã hết sức nặng nề.

Lãnh đạo Bộ Tài chính cho biết, nếu nâng số doanh nghiệp nộp thuế điện tử lên 50 - 60% thì không phải vấn đề lớn, nhưng để nâng cao hơn nữa thì không đơn giản, bởi việc áp dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ở địa bàn khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù vậy, ngành thuế vẫn quyết tâm thực hiện, không để các chính sách đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế chỉ là lý thuyết.




Nguồn: Hùng Anh - An Ninh Thủ Đô





Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

Bớt hành doanh nghiệp

Địa chỉ: A10 Đường Trục, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: 08 3553 1830            Fax: 08 5445 1841
Hotline: 0903 615 248 - 0945 94 94 39

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Có dễ để bỏ con dấu?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa đưa ra Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) để lấy ý kiến nhân dân. Dự thảo nghị định có nhiều điều luật quy định về con dấu của doanh nghiệp, đặc biệt là quy định về việc để cho doanh nghiệp toàn quyền quyết định về việc có hay không có con dấu.

Cụ thể, khoản 1 điều 18 dự thảo nghị định quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu, hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông quyết định doanh nghiệp có con dấu hoặc không có con dấu; quyết định số lượng, nội dung, hình thức con dấu, hủy hoặc thay đổi mẫu dấu; quyết định việc quản lý, sử dụng con dấu”. Quy định này là nhằm hướng dẫn chi tiết khoản 1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp: “Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp”.
Quy định tại khoản 1 điều 18 Dự thảo Nghị định là một đề xuất “táo bạo” và rất đáng trân trọng của ban soạn thảo Dự thảo nghị định, nhằm mục đích tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy vậy, trong thời điểm hiện tại, quy định cho phép doanh nghiệp có quyền không có con dấu xem ra vẫn khó thực hiện.

Luật Kế toán hiện hành quy định doanh nghiệp là đơn vị kế toán và chứng từ kế toán khi lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán (khoản 4 Điều 19 Luật Kế toán 2003), nghĩa là phải có dấu của doanh nghiệp (hiện nay đã có dự thảo sửa đổi Luật Kế toán 2003 nhưng không có điều khoản sửa đổi quy định này). Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (áp dụng từ ngày 1-1-2015) cũng quy định nhiều trường hợp phải đóng dấu trên các chứng từ kế toán, sổ kế toán dạng quyển phải “đánh số trang từ trang đầu đến trang cuối, giữa hai trang sổ phải đóng dấu giáp lai của đơn vị kế toán”, đối với sổ tờ rời thì “các tờ rời trước khi dùng phải được giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền ký xác nhận, đóng dấu và ghi vào sổ đăng ký sử dụng sổ tờ rời” (khoản 1 điều 124 Thông tư 200/2014/TT-BTC).

Trong lĩnh vực thuế, khoản 2 Điều 5 Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Luật Quản lý thuế cũng quy định: “Văn bản giao dịch với cơ quan thuế phải ký, ban hành đúng thẩm quyền; thể thức văn bản, chữ ký, con dấu trên văn bản phải thực hiện theo quy định của pháp luật về công tác văn thư”.
Để có thể “hiện thực hóa” quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết không có con dấu, cần phải có sự cải cách đồng bộ mạnh mẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước và cần lộ trình thực hiện hợp lý.
Trong lĩnh vực hải quan, theo quy định tại điểm c khoản 4 điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan (vừa có hiệu lực ngày 15-3-2015) thì “Đối với khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan khai đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai hải quan, ký tên, đóng dấu (trừ trường hợp người khai hải quan là cá nhân) trên tờ khai để nộp cho cơ quan hải quan”.
Trong việc giao kết hợp đồng, nhiều trường hợp doanh nghiệp vẫn phải có con dấu. Chẳng hạn đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo quy định tại Nghị định 133/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 103/2011/NĐ-CP) thì “Hợp đồng phải được các bên ký kết, đóng dấu và có chữ ký tắt của các bên, đóng dấu giáp lai vào các trang của hợp đồng và phụ lục nếu một trong các bên tham gia hợp đồng là tổ chức” (điểm b khoản 1 điều 7). Đối với hợp đồng xây dựng, theo Nghị định 48/2010/NĐ-CP, “Hình thức hợp đồng bằng văn bản và được ký kết bởi người đại diện đúng thẩm quyền theo pháp luật của các bên tham gia hợp đồng. Trường hợp một bên tham gia hợp đồng là tổ chức thì bên đó phải ký tên và đóng dấu” (điểm c khoản 1 điều 6), “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng (đóng dấu nếu có)” (khoản 2 điều 6) (hiện tại Bộ Xây dựng cũng đã xây dựng dự thảo hướng dẫn Luật Xây dựng 2014 thay thế Nghị định 48/2010/NĐ-CP nhưng dự thảo cũng không quy định khác về điều khoản này). Đối với hợp đồng về nhà ở, theo Luật nhà ở 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) thì hợp đồng về nhà ở phải có “Chữ ký và ghi rõ họ, tên của các bên, nếu là tổ chức thì phải đóng dấu (nếu có) và ghi rõ chức vụ của người ký” (khoản 11 điều 121),...
Trong lĩnh vực tố tụng, doanh nghiệp cũng phải cần đến con dấu trong việc tiến hành thủ tục khởi kiện. Cụ thể, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, nếu doanh nghiệp tiến hành khởi kiện thì phải đóng dấu vào đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 3 điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011): “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”.
Tương tự, trong lĩnh vực tố tụng hành chính, để tiến hành khởi kiện, doanh nghiệp cũng phải đóng dấu vào đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 điều 105 Luật Tố tụng hành chính 2010: “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”.
Thực tế, nếu đơn khởi kiện của doanh nghiệp không có đóng dấu, tòa án có thể không nhận đơn hoặc nhận nhưng sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định (có đóng dấu).
Như vậy, pháp luật hiện hành vẫn quy định nhiều trường hợp doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng con dấu.
Để có thể “hiện thực hóa” quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết không có con dấu, cần phải có sự cải cách đồng bộ mạnh mẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước và cần lộ trình thực hiện hợp lý.

 (*) Văn phòng Luật sư Lê Nguyễn
Quy định tại khoản 1 điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép doanh nghiệp tự quyết định về số lượng con dấu chứ không quy định rằng doanh nghiệp có quyền tự quyết có con dấu hay không. Doanh nghiệp tự quyết về “số lượng” con dấu tức là doanh nghiệp tự mình quyết định có một hoặc nhiều con dấu chứ không hẳn được quyền tự quyết có hay không có con dấu.
Luật Doanh nghiệp 2014 cũng đã quy định: “Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu” (khoản 4 điều 44), “Hội đồng thành viên sử dụng bộ máy điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện nhiệm vụ của mình” (khoản 9 điều 97), “Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình” (khoản 4 điều 98).

Kiều Anh Vũ (*)- thoibaokinhtesaigon

Địa chỉ: A10 Đường Trục, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: 08 3553 1830            Fax: 08 5445 1841
Hotline: 0903 615 248 - 0945 94 94 39