Cụ thể, khoản 1 điều 18 dự thảo nghị định quy định: “Chủ doanh nghiệp
tư nhân, chủ sở hữu, hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông quyết
định doanh nghiệp có con dấu hoặc không có con dấu; quyết định số lượng,
nội dung, hình thức con dấu, hủy hoặc thay đổi mẫu dấu; quyết định việc
quản lý, sử dụng con dấu”. Quy định này là nhằm hướng dẫn chi tiết
khoản 1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp: “Doanh nghiệp có quyền quyết định về
hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp”.
Quy định tại khoản 1 điều 18 Dự thảo Nghị định là một đề xuất “táo bạo”
và rất đáng trân trọng của ban soạn thảo Dự thảo nghị định, nhằm mục
đích tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường
kinh doanh. Tuy vậy, trong thời điểm hiện tại, quy định cho phép doanh
nghiệp có quyền không có con dấu xem ra vẫn khó thực hiện.
Luật Kế toán hiện hành quy định doanh nghiệp là đơn vị kế toán và chứng
từ kế toán khi lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị
kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán (khoản
4 Điều 19 Luật Kế toán 2003), nghĩa là phải có dấu của doanh nghiệp
(hiện nay đã có dự thảo sửa đổi Luật Kế toán 2003 nhưng không có điều
khoản sửa đổi quy định này). Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ
kế toán doanh nghiệp (áp dụng từ ngày 1-1-2015) cũng quy định nhiều
trường hợp phải đóng dấu trên các chứng từ kế toán, sổ kế toán dạng
quyển phải “đánh số trang từ trang đầu đến trang cuối, giữa hai trang sổ
phải đóng dấu giáp lai của đơn vị kế toán”, đối với sổ tờ rời thì “các
tờ rời trước khi dùng phải được giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy
quyền ký xác nhận, đóng dấu và ghi vào sổ đăng ký sử dụng sổ tờ rời”
(khoản 1 điều 124 Thông tư 200/2014/TT-BTC).
Trong lĩnh vực thuế, khoản 2 Điều 5 Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn
một số điều của Luật Quản lý thuế cũng quy định: “Văn bản giao dịch với
cơ quan thuế phải ký, ban hành đúng thẩm quyền; thể thức văn bản, chữ
ký, con dấu trên văn bản phải thực hiện theo quy định của pháp luật về
công tác văn thư”.
| Để có thể “hiện thực hóa” quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết không có con dấu, cần phải có sự cải cách đồng bộ mạnh mẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước và cần lộ trình thực hiện hợp lý. |
Trong lĩnh vực hải quan, theo quy định tại điểm c khoản 4 điều 25 Nghị
định 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan
về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan (vừa có
hiệu lực ngày 15-3-2015) thì “Đối với khai hải quan trên tờ khai hải
quan giấy, người khai hải quan khai đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai hải
quan, ký tên, đóng dấu (trừ trường hợp người khai hải quan là cá nhân)
trên tờ khai để nộp cho cơ quan hải quan”.
Trong việc giao kết hợp đồng, nhiều trường hợp doanh nghiệp vẫn phải có
con dấu. Chẳng hạn đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo quy
định tại Nghị định 133/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (đã được sửa đổi, bổ
sung theo Nghị định 103/2011/NĐ-CP) thì “Hợp đồng phải được các bên ký
kết, đóng dấu và có chữ ký tắt của các bên, đóng dấu giáp lai vào các
trang của hợp đồng và phụ lục nếu một trong các bên tham gia hợp đồng là
tổ chức” (điểm b khoản 1 điều 7). Đối với hợp đồng xây dựng, theo Nghị
định 48/2010/NĐ-CP, “Hình thức hợp đồng bằng văn bản và được ký kết bởi
người đại diện đúng thẩm quyền theo pháp luật của các bên tham gia hợp
đồng. Trường hợp một bên tham gia hợp đồng là tổ chức thì bên đó phải ký
tên và đóng dấu” (điểm c khoản 1 điều 6), “Thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng (đóng dấu nếu có)” (khoản
2 điều 6) (hiện tại Bộ Xây dựng cũng đã xây dựng dự thảo hướng dẫn Luật
Xây dựng 2014 thay thế Nghị định 48/2010/NĐ-CP nhưng dự thảo cũng không
quy định khác về điều khoản này). Đối với hợp đồng về nhà ở, theo Luật
nhà ở 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) thì hợp đồng về nhà ở phải có
“Chữ ký và ghi rõ họ, tên của các bên, nếu là tổ chức thì phải đóng dấu
(nếu có) và ghi rõ chức vụ của người ký” (khoản 11 điều 121),...
Trong lĩnh vực tố tụng, doanh nghiệp cũng phải cần đến con dấu trong
việc tiến hành thủ tục khởi kiện. Cụ thể, trong lĩnh vực tố tụng dân sự,
nếu doanh nghiệp tiến hành khởi kiện thì phải đóng dấu vào đơn khởi
kiện theo quy định tại khoản 3 điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa
đổi, bổ sung năm 2011): “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại
diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần
cuối đơn”.
Tương tự, trong lĩnh vực tố tụng hành chính, để tiến hành khởi kiện,
doanh nghiệp cũng phải đóng dấu vào đơn khởi kiện theo quy định tại
khoản 2 điều 105 Luật Tố tụng hành chính 2010: “Người khởi kiện là cơ
quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó
phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”.
Thực tế, nếu đơn khởi kiện của doanh nghiệp không có đóng dấu, tòa án
có thể không nhận đơn hoặc nhận nhưng sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung theo
đúng quy định (có đóng dấu).
Như vậy, pháp luật hiện hành vẫn quy định nhiều trường hợp doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng con dấu.
Để có thể “hiện thực hóa” quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết không
có con dấu, cần phải có sự cải cách đồng bộ mạnh mẽ từ các cơ quan quản
lý nhà nước và cần lộ trình thực hiện hợp lý.
(*) Văn phòng Luật sư Lê Nguyễn
Quy định tại khoản 1 điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép doanh
nghiệp tự quyết định về số lượng con dấu chứ không quy định rằng doanh
nghiệp có quyền tự quyết có con dấu hay không. Doanh nghiệp tự quyết về
“số lượng” con dấu tức là doanh nghiệp tự mình quyết định có một hoặc
nhiều con dấu chứ không hẳn được quyền tự quyết có hay không có con dấu.
Luật Doanh nghiệp 2014 cũng đã quy định: “Con dấu được sử dụng
trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch
có thỏa thuận về việc sử dụng dấu” (khoản 4 điều 44), “Hội đồng thành
viên sử dụng bộ máy điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của
công ty để thực hiện nhiệm vụ của mình” (khoản 9 điều 97), “Chủ tịch
công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và
con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình” (khoản 4
điều 98).
Kiều Anh Vũ (*)- thoibaokinhtesaigon
Website: www.ketoankyduyen.com
Địa chỉ: A10 Đường Trục, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Điện thoại: 08 3553 1830 Fax: 08 5445 1841
Email: ketoankyduyen@gmail.com
Hotline: 0903 615 248 - 0945 94 94 39
|